Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

LUẬN VỀ THIÊN KHÔI THIÊN VIỆT

Thiên Khôi, Thiên Việt còn có một tên gọi khác là Thiên Ất Quí Nhân. Những tên gọi này thường dùng trong khoa Tử Bình, ít nhất trong khoa Tử Vi. Cả hai chủ về khoa danh, nhưng còn nên hiểu thêm một ý nghĩa khác nữa như là cơ hội để cho khỏi bị bó hẹp.
Nếu Xương Khúc chủ khoa danh rồi thì lại Khôi Việt cũng khoa danh thì ý nghĩa trở thành lẫn lộn. Thật ra cổ nhân có phân biệt, Xương Khúc thì thông minh tài trí, văn chương học vấn, còn Khôi Việt thì tạo đất dụng võ cho thông minh tài trí và văn chương học vấn. Thi cử Xương Khúc có lợi, nhưng ra làm việc Khôi Việt mới thuận.
Có câu phú rằng:
Khoa Quyền ngộ Khôi Việt dị thành công
Xương Khúc hữu Âm Dương nhi đắc lực

Nghĩa là Khoa Quyền được Khôi Việt dễ thành công hơn, và Xương Khúc gặp Nhật Nguyệt đắc lực hơn.
Thiên Khôi đi theo đường chánh, Thiên Việt đi với dị lộ (dị lộ không phải là đường tà mà là đường khác người).
Qua bảng thần thoại theo truyền thuyết Thiên Khôi cầm bút chu sa ghi tên những ai đăng khoa xuất sĩ. Bởi thế khi các sĩ tử đi thi thường làm cỗ cúng Thiên Khôi tinh. Thi đỗ rồi con đường trước mắt là xuất sĩ.
Phần Thiên Việt nếu đi cặp được với Thiên Khôi thì mới vào chánh đạo. Thiên Việt đứng một mình thường chỉ gặp những cơ hội nhỏ thôi.
Thiên Khôi thuộc dương hỏa tốt hơn cho người sinh ban ngày vì Thiên Khôi là nhật quí. Thiên Khôi tạo khuôn mặt sáng sủa cho con người.
Thiên Việt thuộc âm hỏa tốt hơn với người sinh ban đêm có phong thái đĩnh đạc. Thiên Việt mang thêm tính chất đào hoa, gặp Thiên Riêu Đào Hoa càng đa tình. Nhưng Thiên Việt gặp Hồng Loan cổ nhân gọi bằng “hồ đồ đào hoa” hay yêu sảng, nhất là phái nữ.
Khôi Việt một đóng ở Mệnh, một đóng ở Thê mà Thân cư Thê gia hội các cát tinh khác thì đỗ đạt sớm, lấy vợ đẹp xinh. Nếu không hội hợp cát tinh tất khoa danh lận đận, nhưng chuyện vợ đẹp xinh vẫn không thay đổi.
Sách có câu: “Tuy phú quí nhi bất miễn dâm dật” để nói về Khôi Việt đối với nữ mạng. Trên thực tế kinh nghiệm chỉ có gặp ác sát Không Kiếp thì mới dâm dật chứ không phải cứ Khôi Việt là dâm dật.
Khôi Việt một ở Sửu, một ở Mùi, Mệnh với Thiên Di cách gọi bằng tọa quí hướng quí. Tốt hay xấu còn phải tùy thuộc vào chính tinh tại Mệnh cung. Nếu có các sao tốt thì bất luận trai hay gái đều giàu sang. Nhưng cách tọa hướng quí kể như là một cách đào hoa vậy.
Khôi Việt còn có lưu Khôi lưu Việt theo vận hạn mỗi năm. Tỉ dụ người tuổi Giáp, Thiên Khôi đóng Sửu, Thiên Việt đóng Mùi gặp lưu niên vận hạn Giáp Mậu Canh tất nhiên được thêm lưu Khôi lưu Việt, hỉ khánh tăng lên tùy theo cung nào có chúng. Như ở Thê cung mà gặp năm lưu Khôi lưu Việt thì chuyện lấy vợ càng rõ ràng, nếu cung Tử Tức thì chuyện có con càng chắc chắn được Khôi Việt hiệp, cũng cần có lưu Khôi lưu Việt thì lực lượng mới phát huy.
 Tỉ dụ người tuổi Đinh Thiên Khôi đóng Hợi, Thiên Việt đóng Dậu Thìn Tuất là cung Khôi Việt hiệp, vận năm Bính Khôi lưu tới Hợi, Việt lưu đến Dậu gọi bằng lưỡng trùng Khôi Việt thì cơ hội tốt đẹp đến nhiều hơn.
Khôi Việt cần đi đôi, đi đôi rồi lại cần trùng điệp mới hay. Khôi Việt hiệp Mệnh rất hợp với hai sao Tử Vi Thiên Tướng. Người Mệnh Tử Vi Thiên Tướng vốn đã mang sẵn lắm khuyết điểm. Nhưng nếu có Khôi Việt hiệp sẽ hóa giải những khuyết điểm ấy. Khôi Việt đứng đối nhau rất hợp với Thái Âm Thái Dương.
Nhật Nguyệt tọa Mệnh cung có nhiều khuyết điểm, cuộc đời khó thuận buồm xuôi gió, gặp Khôi Việt đối nhau tất thi cử dễ dàng hơn, đồng thời gặp quí nhân đề bạt đẩy chức phận lên cao.
Khôi Việt đóng Thân, Tí rất hợp với sao Vũ Khúc, Vũ Khúc đi cùng Hóa Lộc càng tốt nữa, ắt thành công trên mặt kinh doanh. Khôi Việt ở Dần Ngọ rất hợp với Cự Môn ở Tuất, sách gọi bằng “phản bối” cách, cách này thường gặp những kỳ ngộ về may mắn.
Khôi Việt không bao giờ đóng ở Thìn và Tuất, cổ nhân viện lẽ rằng quí nhân không đi vào đất la võng. Tính chất tế nhị của Khôi Việt không chịu đựng nổi sức ép của lưới trời lưới đất.
Một điều cần chú ý Khôi Việt ở Sửu Mùi. Hai cung chỉ kể làm vượng địa chứ không phải miếu địa cho quí nhân. Sách Đẩu Số Toàn Thư viết nếu ngoài bốn chục tuổi mà gặp hạn Khôi Việt Sửu Mùi thì gọi bằng “quí nhân nhập mộ” chẳng những không là cơ hội tốt mà biến ra những cái họa mai phục, ẩn dấu.
Câu: “Khôi Việt trùng phùng kiêm sát tấu, cố tật vưu đa” (gặp trùng điệp Khôi Việt ở đây thêm sát tinh nữa ắt sẽ bị bệnh thành tật không khỏi). Như vậy ngoài bốn chục tuổi lưu niên và đại hạn đi vào Sửu Mùi có Khôi Việt rồi lại lưu Khôi Việt thêm Hỏa Linh Dương Đà thì bệnh tật triền miên.
Đời xưa tuổi thọ trung bình so với đời nay ngắn hơn, bởi vậy cổ nhân mới lấy bốn chục tuổi làm chuẩn. Thời đại nay tuổi thọ trung bình cao hơn nên tính từ ngoài năm mươi mới đúng.
Ngoài bốn chục gặp Khôi Việt trùng phùng đi cặp với những sao Đào Hoa thì Khôi Việt hoá thân thành đào hoa, nam hay nữ đều gặp những cuộc tình ngoại hôn, hoặc bấy giờ mới lấy chồng, lấy vợ. Khôi Việt chủ về đào hoa, nhưng chỉ vào cung Phúc Đức hay Phu Thê mới kể, còn vào Mệnh cung không phải.
Tỉ dụ Phúc Đức ở Tí, Phu Thê ở Thân, người tuổi Ất tuổi Kỷ Khôi Việt đóng Tí Thân, nếu hai cung này xuất hiện Thiên Riêu, Mộc Dục, Đào Hoa, đương nhiên Khôi Việt chuyển thành đào hoa tinh.. Sau đó mới phối hợp chính diệu của các cung Phối với Phúc để mà đoán định. Giả như cung Phúc có Thiên Đồng, Thái Âm thì đoán rằng do ý chí mềm yếu mà gặp đau khổ duyên tình. Nếu có Vũ Khúc Thiên Phủ thì đoán rằng có quan hệ với một người đã có gia đình.
Trường hợp chính tinh vững vàng lại có Lộc thì thành cách lấy vợ giàu. Tỉ dụ Phúc Đức là Tử Vi, Phố cung là Vũ Khúc Hóa Lộc, rồi Mệnh cung lại gặp Lộc Tồn. Trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu, Khôi Việt đơn thủ mà gặp hung sát tinh ắt bị thương hoặc có tật.
Khôi Việt gặp Hoả Linh lắm tai ương, Khôi Việt gặp Không Kiếp trở nên vô dụng.
Những câu phú cần biết thêm về hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt:
- Khôi Việt Mệnh Thân vi trưởng tử
(Mệnh Thiên Khôi, Thân Thiên Việt thường là con trưởng hoặc nắm quyền trưởng)

- Khôi Việt nhập Thân ư gia quốc tất vi nhân trưởng
(Khôi Việt đóng Thân thường ở địa vị đàn anh)

- Khôi Việt Mệnh Thân đa triết quế
(Có Khôi Việt ở Mệnh Thân thì đỗ đạt cao)

- Thiên Khôi Thiên Việt cái thế văn chương
(Khôi Việt vào Mệnh học hành uyên bác)

- Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn phù hình, sát vô xung đa phú quí
(Mệnh phù trợ bởi Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn, mà không bị sát tinh xung phá ắt giàu sang)

- Khôi Việt đa văn ngộ Đà Kị thiên di dật sĩ
(Khôi Việt gặp Kình Đà từ cung Thiên Di, tài giỏi nhưng ẩn dật)

- Khôi Xương Tả Hữu tương hội hợp, phụ long phan phượng thượng cửu trùng
(Thiên Khôi, Văn Xương, Tả Phụ, Hữu Bật hội tụ vào Mệnh, được người đề bạt mà hiển vinh)

- Tả Hữu Khôi Việt vi phúc thọ
(Mệnh có Tả Hữu, Khôi Việt vừa có phúc vừa thọ

- Khôi Việt đan thủ tử hữu quí
(Cung tử tức Khôi Việt đơn thủ sinh con tài giỏi)
- Thiên Khôi Thiên Việt, phu phụ mỹ lệ
(Phối cung có Khôi Việt lấy vợ đẹp hoặc chồng bảnh)

- Khôi Việt đan thủ Tài Bạch thanh cao, nhất sinh toại ý
(Cung Tài Bạch có Khôi Việt thì thanh cao sang trọng mà không giàu có)

- Sao Quan Phúc cùng Khôi tinh
Đóng vào Thân Mệnh đề danh bảng rồng
(Quan Phúc đây là Thiên Quan Thiên Phúc)

- Việt Khôi Quyền Lộc trong ngoài
Trưởng nam trưởng nữ gái trai đồng bàn

- Việt Khôi Long Phượng Khúc Xương
Ngộ Khoa ắt hẳn bẻ cành quế hoa

- Việt Khôi, Lương Tướng quí trung
Ắt là con giống cháu dòng chẳng sai

- Khôi ngộ Kị trên đầu có tật
Vượng ngộ Khôi thật lắm nốt ruồi

- Cung tử tức trong ngoài Khôi Việt
Hẳn sinh người hào kiệt khoa danh

- Lưỡng Quí phùng Tử Vi Đoài Chấn
Ắt sinh con cầu tự chẳng sai
(Khôi Việt gặp Tử Vi ở Mão với Dậu thì có con cầu tự)

- Việt Khôi là cách văn chương
Khôi là khôi ngộ, Việt thường da đen

- Khôi Việt miếu vượng trưởng huynh
Gia đình xã hội hẳn dành ngôi trên

- Việt Linh Hình hội Cơ Lương
Hoặc là Nhật Nguyệt ắt chờ lôi kinh
(Lôi kinh là bị sét đánh hay điện giật)

- Ân Quí Khôi Việt Đào HồNg
Trai cận cửu trùng gái tất cung phi

- Việt Khôi Quyền Lộc khá bàn
Trong nhà bậc trưởng ra đàng bậc trên

- Việt Khôi Quyền Tướng đáng yêu
Lại gia Tử Phủ mọi chiều vinh quang
(Những sao nói trên hội vào Phu Thê cung)

- Cự Kị nên tránh đò sông
Phục Binh Hình Việt mắc vòng gươm đao
Hỏa Linh Hình Việt khác nào
Không bị sét đánh búa dao có ngày

- Việt Khôi là cách ung dung
Việt thường nhờ bạn, Khôi thường gặp sang.
(Câu trên nói về Khôi Việt đóng cung Thiên Di)

- Khôi Khoa Xương Khúc Tấu Thư
Phát đà văn học có dư anh tài
(Khôi Việt Xương Khúc Tấu Thư ở cung Phúc Đức)

- Cung giải mà ngộ Khôi Hình
Số người phải mắc pháp hình đau thương

LUẬN VỀ SAO TỬ VI

Tử vi thuộc âm thổ, chủ tinh của hệ Bắc đẩu. Về hiện tượng Tử Vi, đứng bậc chí tôn còn gọi là đế toà (như vị vua). Khi luận về Tử Vi, điểm tối trọng yếu là phải thấy được những sao phò tá cho chủ tinh này. Như cổ ca viết:
Tử Vi nguyên thuộc thổ 
Quan lộc cung chủ tinh 
Hữu tướng vi hữu dụng
Võ tướng vi cô quân
(Sao Tử Vi vốn thuộc thổ
Chủ quan tước quyền vị
Có bề tôi thì mới hữu dụng
Như vua mà không triều đình)

Những sao tá tinh đứng ở đâu? Ở hai bên hoặc theo tam hợp chiếu gọi là giáp hay hiệp, hoặc đứng cùng. Tỉ dụ Tử Vi đứng giữa hai cung bên có Tả Phụ Hữu Bật Xương Khúc. hoặc Tử Vi cùng Tả Hữu đứng chung một cung, hoặc tam hợp xung chiếu là Tả Hữu.

Tử Vi thiếu Tả Hữu là cô quân. Vua phải có quần thần mới thành quyền lực, mới uy nghi. Quần thần là những sao nào? Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Thiên Mã.

Nếu không có quần thần lại còn gặp nhiều hung tinh tức là đế ngộ hung đồ (vua gặp kẻ cướp) hoặc “quân tử tại dã tiểu nhân tại vị” (vua bị đám gian thần tiểu quân uy hiếp). Đế tinh trở nên vô dụng còn gặp nguy hại nữa.
Hung đồ tiểu nhân là những sao nào? Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Tham Lang, Tuần Triệt. Đừng quên rằng những sao kể trên chỉ là hung đồ tiểu nhân đối với Tử Vi thôi. Ở một số trường hợp khác, chúng lại thành cực tốt.
Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có câu: Quần thần khánh hội, phú quí song toàn (vua tôi hợp hội giàu sang)
Cách này là cách Tử Vi gặp đầy đủ sao phò trợ, như Tả Hữu làm tướng súy, Thiên Tướng Xương Khúc làm phụ tá, Khôi việt làm quan truyền lệnh, Thiên Phủ làm quan coi kho, binh lương, Lộc Mã làm quan giữ sổ bộ phong chức tước.
Trong “Chư tinh vấn đáp”, Trần Hi Di tiên sinh viết: “Tử Vi là đế tinh, ở mọi cung đều có khả năng giáng phúc tiêu tai, hóa giải những hung ác của các sao khác, khả dĩ chế ngự Hỏa Tinh, có năng lực biến Thất Sát thành quyền, hợp cùng với Thiên Tướng, Thiên Phủ đều thành sang quí, nếu không thế lực thì cũng giàu có, dù gặp Tứ Sát phá vẫn xem là trung cục hoặc bình thường chứ không đến mức thấp kém, hạ tiện.
Sang đến “Cổ Ca” lại thấy một câu khác: “Tụ hội với Kình Dương Hỏa Linh biến thành loại ăn trộm, ăn cắp vặt”. Thế là thế nào? Hai câu mâu thuẫn nhau? Thật ra không mâu thuẫn. Tử Vi phải đi cùng với các sao tốt khác đã, rồi gặp Tứ Sát mới là trung cục, còn như gặp toàn sát tinh không tất nhiên thấp kém, hạ tiện.
Trường hợp Tử Vi đứng một mình tại Ngọ cung và Tí cung (đứng Ngọ đẹp hơn) tất có Thiên Phủ Thiên Tướng chiếu lên hội họp, sách gọi bằng cách Cực Ưỡng Ly Minh (Cực là tên gọi khác của Tử Vi, Ly là cung Ngọ). Cách Cực Ưỡng Ly Minh dù có gặp các sát tinh cũng không đến nỗi ra cái thân phận cô quân.
Chỉ xem thê cung mà thấy nhiều đào hoa tinh thì dễ bị vợ lừa. Vào số nữ thì khác, thường chỉ là chồng kém mình trên địa vị học vấn hoặc tiền bạc. Phủ, Tướng trong cách “Cực Ưỡng Ly Minh” đã góp phần nào cho sự cân bình lực lượng chống với hung sát tinh. Căn cứ vào câu phú: “Tử Vi cư Tí Ngọ, Khoa Quyền Lộc chiếu tối vi kỳ”, Tử Vi Tí Ngọ gặp thêm Khoa Quyền Lộc thì cán cân lực lượng ngã về Tử Vi, các thế lực cũng phải nhường bước.
Tử Vi thủ Mệnh an ở Ngọ
Không Sát tinh chức có tam công 

Tử Vi Thiên Tướng đồng cung (Thìn Tuất) đương nhiên Thiên Phủ chiếu hội, nhưng cách cục này không hay bằng Tí Ngọ Tử Vi hội chiếu Phủ Tướng (Phủ Tướng triều viên). Tử Tướng Thìn hay Tuất hãm vào Thiên La địa Võng khó khăn hơn, nhất là vào số nữ không tránh khỏi vất vả.

Tử Vi Phá Quân, Tử Vi Thiên Tướng thủ Mệnh nữ, việc trăm năm không suôn sẻ, lận đận chồng con. Tử Vi Phá Quân đóng Mệnh bị Liêm Tham Tỵ hoặc Hợi xung chiếu. Tử Vi Thiên Tướng đóng Mệnh, Phu cung Tham Lang hội Liêm Trinh ở Dần hoặc Thân. Liêm Tham là hai sao mang tính chất sắc tình rắc rối, bởi vậy nên vấn đề gia thất không êm.

Bây giờ bàn riêng về Tử Vi Phá Quân. Tử Vi Phá Quân đi cặp chỉ thấy ở hai cung Mùi và Sửu. Phá Quân là sao xung phong hãm trận, đi với Tử Vi được tính như vị tướng dũng mãnh. Tử Vi ra hiệu lệnh, Phá Quân thi hành. Muốn khống chế Phá Quân, Tử Vi cũng cần một trí lực cao. Do đó Tử Phá đóng Mệnh bất luận nam hay nữ đều là con người quyết đoán, chí phấn đấu sôi nổi, can trường lì lợm, phiêu lưu, không thủ cựu, có đời sống hiếu động nhiều màu sắc.

Số trai Tử Phá dễ đi vào chính giới hay quân giới nếu gặp cơ duyên. Được Hóa Quyền Tả Hữu Kình Dương là thành công. Tuy nhiên cuộc sống bôn ba thăng trầm. Tử Phá ra kinh doanh cũng đắc lực nhưng không bền vì nguyên tắc tiền bạc cần phải an định mới tụ để phát triển lớn.

Tử Phá nữ mệnh, người đàn bà tháo vát, ngang ngạnh, bướng bỉnh, dám làm dám chịu, riêng về tình ái rất tùy tiện, tính dục mạnh. Sách mới có câu:

Tử Phá Tham Lang vi chí dâm 
Kìa nữ mệnh xem tướng cách cuộc
Tử Phá Tham hội ước đa dâm

Tử Phá và Tử Vi Tham Lang (tức các Đào hoa phạm chủ). Nam mạng Tử Phá mà tuổi Sửu, Mùi, Thìn, Tuất vào quân giới chính trị hay hơn các tuổi khác (Qua kinh nghiệm thôi, sách vở không nêu lý do tại sao).

Tử Phá nữ mệnh đối với hiện đại tốt hơn thời xưa vì hiện đại người đàn bà được trọng qua sự nghiệp hơn là qua hôn nhân theo quan niệm tự do phóng khoáng là hạnh phúc.

Về cách Tử Vi Tham Lang đóng Mão và Dậu, cách này cổ thư gọi bằng Đào hoa phạm chủ. Tử Vi là chủ, Tham Lang là Đào hoa. Tham Lang ví như Đắc Kỷ, Tử Vi ví như Trụ Vương. Tham Lang như Tây Thi, Tử Vi như Phù Sai.
Tử Tham nữ mạng đa tình hiếu dâm. Tử Vi nam mạng dễ rơi vào lụy tình, bẫy tình, dại gái, mê gái. Sách có câu: Tử Tham Mão Dậu gặp Kiếp Không, Kình Đà Linh Hỏa thường đi vào đường tu hành. Tu hành nên hiểu theo nghĩa khác nhau. Lão kỹ đầu thiền về già đi tu, hương nhang thờ cúng cũng kể làm thoát tục. Nhiều chồng rút cuộc nằm không cũng kể là tăng. Cả đời toàn gặp thất bại, lấy cho lắm vợ cuối cùng ngồi trơ thân cụ, đây là kết quả của Tử Tham Tứ Sát Kiếp Không trong Mệnh cung của lá số.

Tử Tham Tứ Sát tâm thần sinh ra chán nản thường trực. Không cứ phải cạo trọc đầu hay khoác áo nhà tu mới là thoát tục, mới là tăng lữ.

Cách Tử Tham nếu chỉ gặp Hỏa hay Linh tinh tránh được Kình Đà Không Kiếp thì tốt hơn. Trong khi cách Tử Vi Phá Quân gặp Linh Hỏa lại không tốt mà gặp Kình Đà lại hay, như câu phú: Tử Phá thủ Mệnh ngộ Dương Đà, tiện khứ kinh thương (hội Dương Đà vào kinh thương hoạnh phát)

Cổ nhân còn đưa ra câu phú sau đây:

Tử Vi ngộ Phá Quân ư Thìn Tuất Sửu Mùi tứ mộ cung, vi thần bất trung, vi tử bất hiếu (Tử Vi gặp Phá Quân ở bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi làm bề tôi bất trung, làm con bất hiếu)

Tử Vi Thiên Tướng tại Thìn hay Tuất đều gặp Phá Quân ở Tuất hay Thìn. Còn Tử Vi Sửu Mùi đương nhiên đứng bên Phá Quân.

Tử Phá Sửu Mùi vào quân giới, chính trị đạt ước nguyện, hai giới này sự phản phúc bất trung chẳng khác gì chất dẫn hỏa chỉ chờ có lửa liền bốc cháy, bởi vậy không nên dùng người mang số Tử Phá làm tâm phúc.

Tử Vi Thiên Tướng gặp Phá Quân ở cung xung chiếu cũng thế. Chỉ khác nhau ở điểm Tử Phá thì tự mình tạo phản còn Tử Tướng thì nghe theo người làm phản. Một đàng do tham vọng, một đàng gió chiều nào ngả chiều ấy.

Còn vấn đề làm con bất hiếu? Bản chất con người Tử Phá không bao giờ chịu ước thúc trói buộc, làm việc chỉ hoàn toàn tự ý, vì lợi hay vì vợ dụ mà bất hiếu do cái lòng ích kỷ và ba phải.

Số nữ Tử Phá thủ mệnh bậc làm cha mẹ phiền lòng hơn Tử Tướng. Số nam ngược lại Tử Phá bướng, phiêu lưu, gây tai tiếng, gây xáo trộn, phá rối kỷ cương nhưng một ngày nào đó thành công.

Nam mạng Tử Vi Thiên Tướng, phụ mẫu cung Thiên Lương hãm tại Tị hoặc Hợi. Thê cung Tham Lang bất hiếu nặng hơn như mê vợ mà quên công ơn sinh thành (Thê hội chiếu Đào Hoa), hoặc bỏ quê hương gia đình lưu lạc, hoặc phụ mẫu sớm xa trần thế, muốn ân trả nghĩa đền không được.

Tử Vi Thiên Tướng không thành công bằng Tử Phá. Sách ghi câu:”Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân, phú quí hư danh”. Hư danh là không thực, hão huyền.

Nói đến Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung. Cách này hiện lên chỉ ở hai cung Dần và Thân. Phú ghi mấy câu:

Tử Vi Nam Hợi Nữ Dần cung, Nhâm Giáp sinh thân phú quí đồng
Tử Vi Thiên Phủ toàn y Phụ Bật chi công
Tử Phủ đồng cung chung thân phúc hậu
Tử Phủ, Nhật Nguyệt cư vượng địa, đoán định công hầu khí

Câu thứ nhất Tử Vi Nam Hợi không có Thiên Phủ đồng cung, đó là cách Tử Vi Thất Sát với cung xung chiếu là Thiên Phủ. Chỉ có Dần cung mới đứng cùng Thiên Phủ thôi.

Vậy thì số gái Tử Phủ mà tuổi Nhâm Giáp giàu sang là bởi tại tuổi Giáp Lộc Tồn đóng Dần, hội với Hóa Lộc đứng bên Liêm Trinh và Hóa Khoa đứng với Vũ Khúc. Hội đủ Khoa Quyền Lộc: tuổi Nhâm Quyền Khoa ngay tại mệnh và Lộc Tồn nhị hợp từ Hợi.
Câu hai còn như gấm thêm hoa, đã Khoa Quyền Lộc còn cả Tả Hữu càng đẹp, đã sang trọng giàu có còn quyền thế.

Câu ba ý chỉ dù không phải là tuổi Giáp Nhâm cũng có đời sống bình ổn vững vàng.

Câu bốn nói Tử Phủ đồng cung tại Thân tốt hơn tại Dần, vì Thân thì Thái Dương Thái Âm đắc địa trợ giúp cho vận trình, trong khi ở Dần, Thái Dương Thái Âm vào thế hãm (chỉ riêng cho tuổi Giáp).

Có một luận cứ đáng ghi nhận nói: Tử Phủ đồng cung hội tụ cả hai chủ tinh Bắc và Nam đẩu, như vậy thái quá nên dễ cô đơn. Trường hợp Mệnh Phụ Mẫu, Phu chịu ảnh hưởng Cô Thần Quả Tú càng nặng dễ ly hôn, góa bụa hoặc sớm khuyết cha mẹ.

Chuyển qua cách Tử Vi Thất Sát. Cách này chỉ hiện lên ở hai cung Tỵ và Hợi. Trần Đoàn tiên sinh viết: Tử Vi năng hóa Thất Sát vi quyền. Tử vi đứng bên Thất Sát thế vị oai nghiêm, hùng tâm vạn trượng, như vị hoàng đế xuất chinh có bầy tướng giỏi.

Tử Vi Thất Sát khả năng hành động cũng như khả năng suy tưởng kế hoạch đều giỏi, tham vọng cao , vào bất cứ lãnh vực nào học vấn, kinh doanh, chính trị, quân sự, kỹ nghệ đều được. Thành tựu lớn hay nhỏ, cao hay thấp còn tùy thuộc các phụ tinh. Nếu nhiều phụ tinh tốt thì chức trọng quyền lớn, địa vị chức nghiệp khả kính.

Tử Vi Thất Sát có Hóa Quyền thế lực càng lớn. Phú nói: Tử Vi Thất Sát Hóa Quyền phản tác tinh tường (Tử Sát mà gặp Hóa Quyền lại thành hay đẹp). Tại sao dùng hai chữ phản tác? Bởi tại Tử Vi không Thất Sát mà chỉ Hóa Quyền tự mình không điều khiển được Quyền sẽ đưa đến hung hiểm.

Tử Vi hợp với Lộc Khoa Khôi Việt Tả Hữu hơn đứng riêng với Hóa Quyền. Tử Vi Thất Sát thủ Mệnh gặp Tuần Triệt ưu thế bị giảm nhiều, thành công với hư vị, không có thực quyền. Như phú nói: Tử Vi Thất Sát gia không vong, hư danh thụ ấm.

Tử Vi Thất Sát vào số Nữ thường được chồng nể vì do tài điều khiển gánh vác. Nhưng Tử Sát nam mạng thì vợ quán xuyến

Vai trò Thiên Phủ từ cung xung chiếu của cách Tử Vi Thất Sát chỉ là phụ họa vào cái tốt đã sẵn thôi. Về hình thái và tính nết của Tử Vi có những điểm sau: Tử Vi người đầy đặn, mặt vuông vắn hoặc tròn. Tử Vi có một sở đoản trên tính tình, ưa nghe lời phiến động, khoán nịnh, đôi lúc kiêu căng và dễ phụ hội với kẻ quyền thế, hay biến tâm, bản chất tương đối trung hậu nhưng khí lượng hẹp hòi, thiếu anh hùng bản sắc.Có khuynh hướng năm thê bảy thiếp.

Trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có đoạn viết:

Tử Vi viên hội cát tinh lâm
Nhị hạn phùng chi phúc lộc hưng
Thương nhân đắc ngộ đa tài phú
Quan quí phùng chi chức vụ thăng
Tử Vi nhập hạn bản vi tường
Chỉ khứng tam phương Sát Phá Lang
Dân thứ phùng chi đa bất lợi
Quan viên lạc hãm hưu kinh thương

Nghĩa là:”Vận hạn gặp sao Tử Vi, thương nhân phát tài, làm quan thăng chức. Tử Vi là sao đem may mắn đến. Nhưng nếu gặp thêm với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang thì lại không tốt. Kẻ dân giã bất lợi, người chức vị khó khăn.

Sát Phá Tham đây là Tử Sát, Tử Phá và Tử Tham ở cung vận hạn. Không hẳn gặp những sao ấy sẽ bất lợi với khó khăn. Vì Tử Sát, Tử Phá thường gây ra biến động. Thời xưa con người sợ biến động, nhưng thời nay biến động là cần thiết.

Thấy Tử Sát, Tử Phá ở vận trình hoặc tiểu hoặc đại vận mà hay tốt lên thì mừng chứ sao lại lo ngại. Những câu cổ ca trên không lấy gì là đúng cho hiện đại.

Về sao Tử Vi còn thấy những câu phú khác không ghi trong toàn thư mà của những nhà tướng số đời sau ghi lại qua kinh nghiệm.

- Đế toạ ly cung Tam Kỳ Hình Ấn Khôi Xương Hồng Bật, mỹ mạo tài hung, hạn hữu Cự Sát Đà Linh, Chu Du cam hận mệnh vong

(Tử Vi đóng Ngọ hội hợp với Khoa Quyền Lộc, Hình Ấn, Khôi Xương là người tài giỏi, tướng mạo khôi ngô, nếu gặp vận hạn có Cự, Sát, Đà, Linh (Cự Môn, Đà La, Linh Tinh hoặc Thất Sát, Đà La, Linh Tinh) thì giống như Chu Du đời tam quốc nuốt hận mà chết)

- Đế lạc nhàn cung, gia Khúc Xương đa ngôn giảo hoạt
(Tử Vi đóng Tí Mão Dậu hội tụ Xương Khúc thì giảo hoạt và ưa nói quá sự thực)

Trong khi Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có câu: ”Tử Vi Quyền Lộc ngộ Dương Đà tuy hoạch cát nhi vô đạo” nghĩa là Tử Vi có Quyền Lộc nên danh có của nhưng nếu gặp thêm Dương Đà nữa thì tâm chất bất nhân vô đạo.

- Tử Vi mạc phùng Kiếp Không Hồng Đào nhập Mệnh giảm thọ
(Tử Vi mà gặp Kiếp Không, Hồng Đào tại Mệnh tất không thọ)

- Tử Phủ đồng cung, Tuần Không xâm nhập, đế vô quyền nan giải hung tinh hạn ngộ
(Tử Vi Thiên Phủ tại Mệnh bị Tuần Không, vua thành vô quyền khó giải cứu cho vận gặp hung tinh)

- Dần mộc, Phủ Vi hội Tam Kỳ, Kình Bật cư lai, Mệnh xuất võ do văn quyền hành cứ phục chúng nhân, mạc phùng Không Kiếp hư vô

(Dần cung, Tử Vi Thiên Phủ có Khoa thêm Kình Dương Hữu Bật có văn tài nhưng lại theo nghiệp võ, thành công người đời kiêng nể, nhưng nếu bị Không Kiếp lại thành xôi hỏng bỏng không)
- Tử Phá mộ cung vô ưu họa ách, vận lai Phụ Bật nguyên vọng đắc như cầu, Thân kiêm Hồng Lộc Hóa Khoa khánh hội long vân
(Tử Vi Phá Quân ở Sửu Mùi Thìn Tuất không lo những họa tai lặt vặt, tới vận gặp Tả Hữu thì mưu sự thành tựu, nếu cung Thân lại được Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hồng Loan càng thêm hay).

- Đế toạ Thiên La Thân cư Triệt xứ, Giáp Kỷ nhân chung niên nan toại chí đa trái thê nhi

(Tử Vi đóng Thìn, cung Thân bị sao Triệt án ngữ, tuổi Giáp tuổi Kỷ suốt đời không toại chí, còn khổ vì vợ vì con)

- Tứ Sát Tốn cung, đề huề bảo kiếm, Hỏa Tuyệt nhập xâm đa sát. Hạn hội Hồng Khoa Ấn Mã dị lập chiến công.
(Tử Vi Thất Sát ở cung Tỵ gặp Hỏa Tinh và sao Tuyệt thành người đa sát nếu có Hồng Loan, Hóa Khoa, Quốc Ấn, Thiên Mã hội tụ làm võ tướng dễ lập công to)

- Tử Phủ Vũ Tướng Tả Hữu Long Phượng Khoa Quyền Lộc Ấn, quần thần khánh hội chi cách gia Kình Kiếp loạn thế nan thành đại sự
(Cách quần thần khánh hội Tử Phủ Vũ Tướng Long Phượng Tả Hữu Khoa Quyền Lộc Ấn nếu bị Kình Dương Địa Kiếp gặp thời loạn bất thành đại sự)

- Tử Tham Tả Hữu hội trung
Có người con gái trốn chồng theo trai
(Ở cách này Tả Hữu biến chất, tuy nhiên Tử Tham Tả Hữu còn phải thêm cả Tang Hổ nữa thì mới liều như thế)

- Tử Tham Khôi Việt phương Đoài
Long thần kỳ đảo ai ai cúng dường
(Tử Tham đóng ở Dậu cung gặp Khôi Việt dễ đi vào nghề thầy chùa thầy cúng)

PHẦN 12 PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐOÁN TỬ VI


     12.1. Phương pháp xem xét lá số cố định
     Để luận đoán được lá số Tử Vi, trước hết người luận cần nhớ được các kiến thức cơ bản, các thuật ngữ, ý nghĩa của 12 cung trên Tử Vi và các mối liên hệ giữa các cung số với nhau để giúp ta có cái nhìn tương quan giữa các cung số.
     Các cung Tam hợp được ví như hoàn cảnh sống, môi trường sống tác động lên bản thân ta. 
     Chính cung được xem xét là bề nổi, là những gì ta nhìn thấy trực tiếp, quan sát được còn các cung Tam Hợp được ví như bề chìm. Là những tính cách, hoàn cảnh, cách hành xử mà ta không thấy được từ đó mang lại.
     Nhị Hợp và Lục Hội giải thích những cái vì sao, tại sao, vì ai những cái mà chúng ta không tìm thấy ở cung Tam Hợp và nhất là giúp để luận đoán Hạn tăng thêm phần chính xác.
     Khi xem xét các cung số khác thì chính cung cũng được hiểu là phần tương tác bên ngoài, nghĩa là những đặc tính họ thể hiện ra ngoài để cho ta thấy còn các cung Tam hợp, Nhị Hợp, Lục Hội là những tính cách bên trong họ giấu đi.
     Nhớ được các thế sao cơ bản trong Tử Vi đã được trình bày ở các phần từ “Phần 6" đến "Phần 10” của Tài liệu này tiếp đó là ý nghĩa cơ bản của các sao trong Tử Vi đặc biệt là các phần cần gặp, kỵ gặp của sao (chưa bàn tới trong cuốn sách này).
Khi xem xét bất cứ cung nào đều phải phối hợp các tính chất của cung Mệnh với cung số đó.
     Cần xem xét các cung về người (Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Phúc Đức, Phu Thê, Tử Tức, Nô Bộc) dưới góc độ về quan hệ giữa cung đó với ta.
     Chính tinh cho ta thấy cái Nghiệp của mỗi con người;
     Muốn xem về Tính cách cần hiểu về vòng THÁI TUẾ và các sao có cùng đặc tính với Vòng THÁI TUẾ
     Muốn xem về nghề cần hiểu về Vòng LỘC TỒN BÁC SỸvà các sao có cùng đặc tính với vòng LỘC TỒN, BÁC SỸ;
     Muốn xem về Tài Lộc thì quan tâm đến bộ Song Lộc.
     Bộ song Lộc đóng tại các cường cung Mệnh Tài Quan hay Phúc Di Phối và Điền được kể là hay.
     Muốn xem thành công cần phối hợp giữa Chính Tinh, nhóm sao chủ tính cách, nhóm sao chủ nghề và các sao an theo Tháng, Ngày và Giờ sinh đặc biệt là bộ Tam Hóa.
     Bộ sao KHÔNG KIẾP và KỴ HÌNH là đáp số phức tạp cho toàn bộ Cách cục.
     12.2. Mệnh Hạn
     Bạn đọc thường nhắc đến từ Mệnh Hạn nhưng có lẽ đa phần các bạn không quan tâm đến. Và chúng ta thường quan tâm đến Tiểu Hạn hay Đại Hạn mà thôi.
     Mệnh hạn nghe có vẻ mơ hồ và khó hiểu. Thật ra cũng dễ hiểu và đến lúc các bạn cần hiểu. Vì Mệnh Hạn cũng là cái Hạn tại Mệnh đừng hiểu lầm từ này ghép đôi của Mệnh và Hạn và Mệnh hạn là từ riêng dung đẻ chỉ sự tốt xấu tai cung Mệnh của năm ấy.
     Ví dụ như thế này bạn dễ hiểu. một người có chính tinh tọa thủ tại Mệnh bất kể nó hợp Mệnh hay là không. Ví dụ THÁI DƯƠNG cho là sáng sủa tốt đẹp nhưng không phải bao giờ họ cũng đắc ý và thành công, cũng không phải là do họ gặp Tiểu Hạn xấu hay Đại Hạn xấu. Mà còn do cái năm ấy không hợp với họ.
     Ví dụ, người THÁI DƯƠNG rất kỵ năm Giáp, tất nhiên tháng Giáp ngày Giáp đều kỵ vì chữ Giáp, hóa khí THÁI DƯƠNG là HÓA KỴ. Từ đó người THÁI DƯƠNG dễ bị người ta ghét, nghi kỵ (nghi ngờ) rồi cấm đoán. Tự nhiên người THÁI DƯƠNG năm ấy vụng về hơn, hoặc cũng chẳng vụng về nhưng tự nhiên dưới con mắt nhiều người dễ bị ghét bỏ hơn, bình thường họ vẫn thế. Nhưng hôm nay họ dễ bị người ta chỉ trích, dễ ghét chưa kìa hay tự đắc, hoặc thấy kênh kiệu, hoặc là khoe khoang… và họ tìm ra được cái để chỉ trích nhưng năm trước đây, ngày trước đây họ lại không chỉ trích.
     Lại ví dụ tiếp, Mệnh DƯƠNG LƯƠNG tại Mão vào năm Giáp ngoài lưu KỴ còn thêm lưu KÌNH, cái đố kỵ đó càng thêm mạnh mẽ. Hoặc bộ KỴ ĐÀ nếu như Mệnh ÂM DƯƠNG tại Sửu. Hoặc Mệnh có bộ CỰ NHẬT tại Tuất như trường hợp THÁI DƯƠNG tại Tuất lưu Hóa Kỵ tại đó còn làm cho cả CỰ MÔN bị mất tác dụng.
     Ta hãy hình dung một người tự nhiên năm ấy bị xấu đi do Mệnh hạn, di chuyển trong Đại Hạn tương đối xấu và Tiểu Hạn cũng tương đối xấu. Tất mọi việc càng dễ thêm xấu. Với người THÁI DƯƠNG họ kỵ năm Giáp nhưng lại hợp năm Canh (do Canh và Giáp xung nhau, chữ Canh THÁI DƯƠNG hóa khí là HÓA LỘC) và năm TÂN hóa khí thành quyền. Nếu Đại Hạn hay Tiểu Hạn tương đối xấu nhưng gặp năm Mệnh hạn tốt đẹp cũng trở thành dễ chịu.
     Cũng lý luận như thế người ÂM DƯƠNG chịu liền 2 năm Giáp Ất bị lưu KỴ. Trừ các trường hợp kỳ tài không nói làm gì nhưng các trường hợp cung Mệnh vốn đã không tốt đẹp bị lưu Kỵ thêm Kình hay Đà rất xấu cho các trường hợp NHẬT NGUYỆT. Tât nhiên người NHẬT NGUYỆT hợp các năm Mậu Đinh Canh Tân.
     Theo những lý luận đã có, người có LIÊM TRINH rất kỵ các năm Bính, THAM LANG kỵ năm Quý. Nếu chỉ có KỴ thôi đã phiền lại có thêm ĐÀ, KÌNH TRIỆT càng phiền nhiều hơn. Những chi tiết này làm cho vận hạn đã xấu lại càng xấu hơn.
     Chỉ có các sao không có hóa khí như bộ PHỦ TƯỚNG… là ít chịu hóa khí tác động, vì bộ này chủ yếu là đa phần được người ta thương. Nó bi xấu là do các chính tinh khác tác động. Và bị xấu do hàng Can Chi sẽ đề cập ở dưới.
     Trên là phần lưu hóa khí các năm. Phần các sao trong bộ Can Chi cũng thế. Các sao CỰ MÔN, PHÁ QUÂN tọa thủ Mệnh không thích lưu LỘC TỒN hội họp tại Mệnh mà nó chỉ thích sao HAO. Bộ PHỦ TƯỚNG không hợp với KÌNH TRIỆT. THIÊN CƠ rất kỵ TANG MÔN. TỬ VI rất kỵ THIÊN HƯ TUẾ PHÁ, nhất là Hư TRIỆT… Nếu có những sao kỵ tất nhiên cũng có những sao đem lại vui mừng như ĐÀO HỒNG HỈ, Song Hỉ và Tứ Linh che chở Mệnh làm cho cung Mệnh có giá trị hơn. Như thế có nghĩa là Mệnh hạn năm này có thể tốt hay xấu, đối đầu với đại, Tiểu Hạn.
     Ngoài ra chú ý các bộ Can Chi tại cung Tật Ách, lưu tại cung Mệnh thường đem lại những tai ách. Một sao thuộc hàng Can thiên về việc làm và 1 sao thuộc hàng Chi thiên về trạng thái. Kể cả các trường hợp lưu tại Đại Hạn, Tiểu Hạn cũng là xấu vì nó đại diện cho tai ách.
     Cũng thế các bộ Can Chi tại các cung, lưu động tại Mệnh hay đai Tiểu Hạn tất nhiên có việc liên quan đến cung đó. Ví dụ bộ Can Chi của cung huynh đệ lưu tại Mệnh hay đại, Tiểu Hạn tất nhiên có vấn đề liên quan, tốt xấu còn tùy thuộc vào hung cát tinh để luận.
     12.3. Ngiên cứu về Hạn
     Khi xem xét Hạn ta luôn lấy các cung số của ban thân làm gôc (Mệnh Thân Tài Quan Tât). Cho dù ở bất cứ Đại Vận nào cung số nào thì các tính chất của Mệnh Thân Tài Quan Tật không thay đổi. Có chăng họ chỉ thay đổi cách nhìn nhận mà thôi.
     Đại Vận là hoàn cảnh tác động lên ta trong giai đoạn 10 năm của Đại Vận. Trong 10 năm đó bản thân ta vẫn vậy, hoàn cảnh đó tác động tới ta ra sao mà thôi từ đó vẫn cái nghiệp đó, cái nghề đó, cái tính cách đó hay tai Ách đó ta thế nào với hoàn cảnh đó.
     Tương tự như vậy Tiểu Vận, Nguyệt Vận và Thời Vận là hoàn cảnh tác động lên ta tại thời điểm đó.
     Cần đưa các sao, nhóm sao về các nhóm sao có cùng đặc tính để quyết đoán.
     Hiểu được ý nghĩa cơ bản của các sao, cần gặp và kỵ gặp để quyết đoán.
     Khi xem xét về Hạn (Đại Hạn hay Tiểu Hạn) thì cung nhập Hạn là cung số tại giai đoạn đó ta phải bận tâm nhiều, chịu sự chi phối nhiều nhưng không phải chỉ xem xét ở cung đó thôi. Ta phải xem xét được toàn bộ 12 cung số trên lá số Tử Vi để quyết đoán.
     Có khi Tiểu Hạn xấu nhưng Mệnh Hạn tốt có khi ta vẫn toại ý thì ta đoán khác và ngược lại.
     Một năm bất kỳ ta hoàn toàn tìm được các cung xấu tốt ra sao.
     Để xem xét Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn người xem cần lưu được các sao lưu động.
     Trong pham vi của phương pháp Tử Vi này chúng ta sử dụng 46 sao lưu động cho phần Tiểu Hạn. Khi xem xét đến Nguyệt Hạn ta lưu thêm các sao Tháng (5 sao), xem xét đến Nhật Hạn Lưu thêm các sao Ngày và các sao an theo Ngày và Tháng (2 sao) xem đến thời hạn lưu thêm các sao Giờ và các sao an theo Ngày và Giờ (10 sao).
     Sử dụng Can Chi của Năm, Tháng, Ngày Giờ để tiến hành Lưu sao.
     Sau khi an toàn bộ các sao lưu động của Năm hoặc Tháng hoặc Ngày hoặc Giờ ta coi bản đồ các sao này như 1 lá số thứ 2. Mang lá số cố định ghép với lá số Phi tinh lưu động để xem xét.
     Khi ta hiểu được hết nội dung của cuốn sánh này kết hợp với ý nghĩa các sao, bộ sao và đặc biệt là phần cần gặp và kỵ gặp của các sao cho ta đáp án rất thú vị về 1 lá số cũng như xem xét Vận Hạn.
     Cách tính Can Chi của tháng 
     Dựa trên cơ sở Can của năm theo lịch kiến dần (nguyên tắc ngũ dần)
     Trước hết tháng giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão..., mỗi tháng đi với một Chi nhất định
     Muốn biết Can của tháng thì áp dụng phương pháp sau gọi là phương pháp Ngũ Dần:
     Năm Giáp và Kỷ tháng giêng là tháng Bính Dần
     Năm Ất và Canh tháng giêng là tháng Mậu Dần
     Năm Bính và Tân tháng giêng là tháng Canh Dần
     Năm Đinh và Nhâm tháng giêng là tháng Nhâm Dần
     Năm Mậu và Quí tháng giêng là tháng Giáp Dần
     Cách tính Can Chi của ngày 
    Dựa trên Can Chi của tháng. Theo nguyên tắc tháng giêng là tháng Giáp Tí thì ngày mùng một sẽ là ngày Giáp Tý, mùng hai sẽ là Ất Sửu...Vì số ngày trong năm không chia chẵn cho 60, nên ta không thể có qui tắc tính Can Chi của ngày dựa trên Can Chi tháng được mà phải tra lịch.
     Cách tính Can Chi của giờ 
     Căn cứ vào Can Chi của ngày theo nguyên tắc ngũ Tý
     Ngày Giáp và Kỷ giờ Tý là Giáp Tý;
     Ngày Ất và Canh giờ Tý là Bính Tý;
     Ngày Bính và Tan giờ Tý là Mậu Tý;
     Ngày Đinh và Nhâm giờ Tý là Canh Tý; 
     Ngày Mậu và Qui giờ Tí là Nhâm Tý.

PHẦN 11 Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA CÁC CUNG TRONG TỬ VI


     11.1. Nhận xét chung
     Trong Tử Vi ngoài các cung về bản thân là Mệnh Tài Quan thì ta có các cung khác bao gồm: Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê, Huynh Đệ
     Các cung Tam hợp được ví như hoàn cảnh sống, môi trường sống tác động lên bản thân ta. 
     Chính cung được xem xét là bề nổi, là những gì ta nhìn thấy trực tiếp, quan sát được còn các cung Tam Hợp được ví như bề chìm. Là những tính cách, hoàn cảnh, cách hành xử mà ta không thấy được từ đó mang lại.
     Nhị Hợp và Lục Hội giải thích những cái vì sao, tại sao, vì ai những cái mà chúng ta không tìm thấy ở cung Tam Hợp và nhất là giúp để luận đoán Hạn tăng thêm phần chính xác.
     Khi ta đã hiểu được ý nghĩa các sao, hiểu được các thể sao cố định trong Tử Vi. Sẽ giúp ta có nhiều luận đoán thú vị khi áp dụng các thế Nhị Hợp, Lục Hội và Tam Hợp.
     11.2. Tổng quan về ý nghĩa các cung trong Tử Vi
     11.2.1. Mệnh 
     Là tư tưởng, là chí hướng, tính cách và khả năng của con người; Mệnh mỗi người có một hướng đi rất rõ ràng, trong vô thức ta vẫn đi rất đúng hướng. Mệnh là “cái hồn” của ta, cái chí của ta. Có người Mệnh chẳng là cái gì, nhưng Thân họ sướng vẫn cứ sướng. Cần chi tài năng cứ sinh ra làm cậu ấm, cô chiêu ưa chi có nấy, không lo phần nhà cửa (cha mẹ chỉ lo đừng quậy là được).
     Để an được cung Mệnh cần biết Tháng sinh và Giờ sinh. 
Các cung tiếp theo được an từ vị trí cung Mệnh theo nguyên tắc như sau: Từ vị trí cung Mệnh theo chiều thuận (thuận kim đồng hồ) an lần lượt các cung: Phụ Mẫu (Phụ), Phúc Đức (Phúc), Điền Trạch (Điền), Quan Lộc (Quan), Nô Bộc (Nô), Thiên Di (Di), Tật Ách (Tật hay Ách), Tài Bạch (Tài), Tử Tức (Tử), Phu Thê (Phối), Huynh Đệ (Bào).
     11.2.2. Thân
     Là thân thể, thân phận, xác thân, xác thịt là con người thật của ta, thân đóng tại đâu ta chịu ảnh hưởng tại đó. Cái tốt đẹp tụ tập tại cung Thân chỉ sướng Tấm Thân thôi. Không đem lại Vinh Quang cho Mệnh. Tạm thời bạn nên chấp nhận Thân là thể xác còn phần minh chứng ở phần tiếp theo.
     Thân cần nhất là sự khỏe mạnh để chuyên chở cái Mệnh, như câu người ta nói “Một tinh thần mạnh khỏe trong một thân thể tráng kiện”. Một tinh thần chọc trời khuấy nước nằm bẹp dí trên giường ai mà sợ, thương hại thì có. Chỉ cần một thân thể bình thường thôi là quý với một ý chí hơn người là tốt. Một thân thể hùng vĩ, khôi ngô đầu óc thiếu trình độ thì làm… vệ sỹ. Dẫu sao cũng sướng kề cận quý nhân. Tệ nữa làm bốc vác,…
     Cung an Thân được an theo Tháng và Giờ sinh
     Thân chỉ có thể an vào Mệnh, Phu Quân, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê và Phúc Đức.
     Có thể nhận biết ví trị cung an Thân qua Giờ sinh như sau:
     - Sinh giờ Tý, Ngọ Mệnh và Thân đồng cung;
     - Sinh Giờ Sửu, Mùi cung Thân an tại Phúc Đức (Phúc);
     - Sinh Giờ Dần, Thân cung Thân an tại Quan Lộc (Quan);
     - Sinh Giờ Mão, Dậu cung Thân an tại Thiên Di (Di);
     - Sinh Giờ Thìn, Tuất cung Thân an tại Tài Bạch (Tài);
     - Sinh Giờ Tị, Hợi cung Thân an tại Phu Thê (Phối).
     11.2.3. Quan Lộc
     Là cung thể hiện mối quan hệ giữa ta và công việc, môi trường làm việc, hoàn cảnh công việc tác động tới ta. Đừng lầm tưởng Quan Lộc chỉ chủ về công việc ta làm. Muốn xác định được tính chất công việc cần phối hợp giữa nhiều cung số với nhau đặc biệt là Mệnh Thân Tài Quan Di.
     11.2.4. Tài Bạch
     là cung số chủ về Tài sản, có tính chất giống như cung Điền Trạch. Kết hợp giữa Mệnh và Tài đặc biệt là các cung ở Thế Nhị hợp và Lục Hội để phản ánh điều kiện của một con người, họ sử dụng đồng tiền ra sao? Từ đâu mà có hay sử dụng vào mục đích gì. Cung này cần các ngôi sao chủ về Tài Lộc là tốt.
     11.2.5. Phụ Mẫu
     là cung số thể hiện mối quan hệ giữa Phụ Mẫu và ta, họ giúp ta hay không giúp ta thậm chí có ảnh hưởng xấu tới ta. Xem thử cung Mệnh và cả cung an Thân có Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Phụ Mẫu không. Nếu cả 2 cung Thân Mệnh không Nhị Hợp hay Lục Hội ít ở gần cha mẹ. Nếu có hội họp xấu càng dễ xung khắc, tốt càng rất tốt.
     Tất cá cha mẹ ruột, nuôi hay cha mẹ vợ đều phản ánh tất cả trong cung Phụ Mẫu.
     Đại Hạn thứ 2 của một số người đi ngang qua cung Phụ Mẫu, chịu ảnh hưởng rất nhiều của cung này, và từ đó có thể hình thành nghề nghiệp về sau, do cung này gây áp lực hay hướng dẫn mình đi theo lối ấy.
     11.2.6. Huynh Đệ
     là cung số thể hiện mối quan hệ giữa Huynh Đệ và ta, họ giúp ta hay không giúp ta thậm chí có ảnh hưởng xấu tới ta. Xem thử cung Mệnh và cả cung an Thân có Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Huynh Đệ không. Nếu cả 2 cung Thân Mệnh không Nhị Hợp hay Lục Hội cuộc đời không chịu ảnh hưởng bởi cung số này. Nếu có hội họp xấu càng dễ xung khắc, tốt càng rất tốt.
     Tất cá anh chị em ruột, nuôi hay anh chị em vợ đều phản ánh tất cả trong cung Huynh Đệ.
     Đại Hạn thứ 2 của một số người đi ngang qua cung Huynh Đệ, chịu ảnh hưởng rất nhiều của cung này, và từ đó có thể hình thành nghề nghiệp về sau, do cung này gây áp lực hay hướng dẫn mình đi theo lối ấy.
     Từ vị trí cung Huynh Đệ ngoài Tam hợp phải luôn là Điền Trạch, Tam hợp trái là Tật Ách và Xung chiếu là Nô Bộc thì Huynh Đệ có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Phu Thê, Quan Lộc.
     11.2.7. Cung Phúc Đức
     Là cung khá quan trọng, có khi Thân cư tại đó càng làm cho nó quan trọng hơn. Phúc Đức là cung có liên quan đến bà con họ hàng. Tam hợp có cung Thiên Di là nơi giao lưu tiếp xúc với tất cả mọi người trong xã hội, đồng thời tam hợp với Phối cung từ đó phía bên chồng hay vợ cũng trở thành là bà con thân thuộc, đối với giới nữ bà con bên chồng còn quan trọng hơn cả bà con bên mình, vì toàn bộ cuộc đời về sau gởi gấm vào nơi ấy. Cung Phúc Đức còn xung chiếu thẳng vào cung Tài Bạch vì thế góp 1 phần không nhỏ may mắn về tiền bạc mang lại.
     Cung Phúc đức thường hay Nhị Hợp với các cung Phụ Mẫu, Điền Trach, Nô Bộc, Tật Ách, Tử Tức và cung Phối.
     Sinh vào các giờ Sửu Mùi, cung an Thân luôn luôn cư tại cung Phúc Đức.
     Cung Phúc Đức dễ tạo ra mối giao lưu tốt trong xã hội, đồng thời cũng dễ kiếm được người phối ngẫu đàng hoàng. Cung này xấu thường phải xa xứ để làm ăn, tránh những phiền toái do bà con mang lại.
     Phúc đức là cung hưởng phúc đức ông bà tổ tiên dòng họ để lại, cung này bị mất tác dụng hoặc bi phản tác dụng là điều đáng tiếc. Ta thường nghe người ta bình phẩm: Vô phúc chưa kìa lấy con vợ (hay thằng chồng) không ra gì, vô phúc ra đường gặp nạn hoặc gặp giặc. Có phúc ra đường thằng ăn cướp đã bị bắt, hoặc thằng giặc đã bỏ đi… Vì thế cung Phúc là nơi chứa phúc đức, cung Tật Ách là nơi nhận tai ách. Nếu cung Phúc bị mất tác dụng là điều đáng tiếc.
     Từ vị trí cung Phúc Đức ngoài Tam hợp phải luôn là Thiên Di, Tam hợp trái là Phu Thê và Xung chiếu là Tài Bạch thì Phúc Đức có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phụ Mẫu, Tật Ách, Huynh Đệ, Nô Bộc, Điền Trạch, Tử Tức.
     11.2.8. Cung Phu Thê
     Cung Phu Thê, đối với nam nhân còn gọi là cung Thê Thiếp. Thê là vợ chính, nguyên phối, vợ cả. Thiếp là vợ hầu, vợ bé, vợ hai, vợ lẻ. Cho nên có mấy vợ hay chồng cũng nằm ở cung này mà thôi. Có người ứng hợp vào sao tốt làm cho tốt thêm, có người ứng hợp vào sao xấu làm cho xấu thêm. Nhất là Mệnh cung người đó nằm ở vị trí không thích hợp mấy đối với lá số TỬ VI của mình gây nên ảnh hưởng xấu. Hay nhất, hợp lý nhất, duyên nợ nhất nằm tại vị trí cung Phối. Thường gặp trùng Mệnh hay ở Tài Quan Di và ở cung Điền cũng hợp lý. Chứ không nên leo trèo vào cung Phụ Mẫu hoặc quấy rối tại cung Tật Ách dễ đem tai họa đến cho mình.
     Cung Phu Thê tam hợp với các cung Phúc Đức, Thiên Di xung chiếu còn có cung Quan Lộc tác động mạnh vào cung này không ít.. So với cung Phúc Đức, cung Phu Thê có tầm quan trọng hơn vì luôn luôn là cung gần gũi với Mệnh, tác động lên cung Quan Lộc gây ảnh hưởng đến công danh, giao lưu tiếp xúc đi lại lên cung Thiên Di và cung Phúc Đức bà con. Nhị Hợp với các cung nhược đa phần chỉ về người. Từ đó Phối cung ảnh hưởng không ít đến cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Anh Em, Bạn Bè… 
     Ví dụ sinh động dễ hiểu.
     Cần giúp bố mẹ (anh em, bạn bè…) một ít tiền, bàn với phối ngẫu. Được trả lời là: Ai làm nấy ăn.
     Cần mua thuốc men dùng bản thân. Được trả lời là: Ai có thân nấy lo…
     Một số người cung an Thân cư tại Phối cung làm cho cung này lại quan trọng hơn, vì tính lệ thuộc vào cung ấy, một phần cuộc sống của mình, sống độc thân là 1 điều không thể chấp nhận được, đừng hiểu lầm Thân cư vào Phối là sợ cung ấy. Muốn biết sợ hay không nhìn vào cung Phối có HÓA KỴ là sợ, là ghét là căm. Tuy nhiên cung an Thân có thể bị TUẦN hay TRIỆT vì thế dễ thất vọng trên tình trường vì nó chủ mất, nhưng có cát tinh hội họp vẫn suốt đời ăn ở với nhau.
     Cơ bản là cung Phu Thê không nên tốt hơn Mệnh, nếu nam giới cung Mệnh yếu hơn cung Thê rõ ràng có sự sút kém về danh giá. Tuy nhiên nữ giới có thể mạnh hơn cung Phu, có thể làm nổi bật cho gia đình.
     Từ vị trí cung Phu Thê ngoài Tam hợp phải luôn là Phúc Đức, Tam hợp trái là Thiên Di và Xung chiếu là Quan Lộc thì Phu Thê có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Điền Trach, Tử Tức, Tật Ách, Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Nô Bộc.
     11.2.9. Cung Tử Tức
     Cung Tử Tức có nghĩa là cung con (tử) và cháu (tức). Cung con cái hay cung con cháu.Nếu đã có cháu. Nếu có cả dâu rể đều nằm chung tại đây. Cung Tử Tức là nơi quản lý đám con cháu, dâu rể.
     Cho ta một nhận định chung, đánh giá chung vầ các con và cháu. Phù hợp hay không, quan tâm đến hay không, có đủ trai gái hay không, vinh hay nhục vì con, nhờ con cháu.
     Cung Tử Tức luôn luôn xung với cung Điền, cho nên vấn đề nhà cửa trở nên quan trọng, tam hợp với Phụ Mẫu vì thế con cháu và ông bà thể cùng chung với nhau một mái nhà, và cũng từ đó có những nhận xét tốt xấu về cung Mệnh. Con cháu còn liên quan đến bạn bè, tôi tớ có thể cậy nhờ, cũng có thể ức hiếp lẫn nhau với muôn ngàn tình huống.
     Cung Tử tức còn Nhị Hợp, Lục Hội với 1 số cường cung quan trọng. Tác động đến dòng họ Nếu Nhị Hợp với Phúc, đến Quan Lộc cung, Thiên Di cung, Tài Bach cung và Phối cung.
     Do thế đứng tại cung Mệnh, Mệnh đóng Nhị Hợp và Lục Hội với cung Tử, bận tâm nhiều hơn kẻ khác.
     Cung Tử Nhị Hợp hay Lục Hội đến cung nào, tất nhiên sẽ tác động xấu hay tốt đến cung đó.
     Ví dụ cung Tử có THÁI DƯƠNG ngôi sao công khai, ngôi sao nam giới, ngôi sao của ngày tháng… luôn luôn Nhị Hợp và Lục Hội với THẤT SÁT và THIÊN PHỦ. Công khai cái gì với các cung liên quan và cung ấy là cung gì.
     Cung Tử Tức đối với nữ giới là cái cung quan trọng còn hơn cả cung Phu. Người nữ thường gắn bó cuộc đời mình vào con cái nhiều hơn. Việc tốt xấu cung Tử ảnh hưởng rất mạnh đến nữ giới. Thời điểm đi qua cung Tử hay đối diện với cung này, thiên tính làm mẹ người nữ rất thôi thúc rất là cao, hôn nhân muộn có thể từ cung Tử do nhu cầu làm mẹ..
     Truyền tinh: có truyền tính với cung Mệnh. Ví dụ Mệnh có SÁT PHÁ THAM con cháu cũng nhóm sao này là truyền tính.
     Truyền cung: truyền cung, cung Tử của mình nằm tại Tý, Mệnh con cũng nằm tại Tý là truyền cung. Mệnh con nằm tại cung Tử là hợp lý nhất. Đó là vai trò con cái. Chứ leo trèo nằm tại cung Phụ Mẫu có điều bất ổn, Hợp lý hơn là Mệnh con nằm trùng với cung Mệnh rất gần gũi với Mệnh ta. Và 1 số vị trí nên nằm là tại cung Điền, hơi bất lợi cho Phụ nữ vì lấy chồng đa phần phải theo chồng, cá biệt lấy chồng rồi vẫn ở với cha mẹ, Ngoài ra Mệnh con thường dễ gặp là nằm ở các cung Tài Quan Di tức là vị trí cung Mệnh luôn luôn thấy, nhờ đó thường gần gũi bố mẹ.
     Nơi Mệnh con không nên nằm là cung Tật Ách của bố mẹ, nhì là cung Phối. Nếu nằm ở Tật Ách vô tình cha mẹ phải gánh lấy tai ách bệnh hoạn của mình. Nằm ở Phối cung là sự đòi hỏi thái quá. Ví dụ mầy là con tao chứ đâu phải là chồng tao đòi hỏi xe này xe nọ…
     Thông thường người ta thường xây dựng hôn nhân tại Đại Hạn Phối hay Phúc, nếu hôn nhân xảy ra tại cung Phụ hay Huynh thuộc loại sớm, tại Tử, Điền thuộc loại muộn. Khi Đại Hạn đáo Tử Tức 1 vấn đề đặt ra là Tử Tức, Phụ Mẫu, Nô Bộc. Chính 2 cung Phụ và Nô thôi thúc Mệnh cung đến với hôn nhân. Vì thế hạn đến cung Tử bạn bè thường hay hỏi, con cái như thế nào cũng là 1 hành động thôi thúc, hoặc bố mẹ nói mầy không lo việc con cái cứ theo đám bạn bè… Bởi thế tính thôi thúc xây dựng gia đình tại cung Tử rất mạnh mẽ, thường có sự thương lượng của bố mẹ và bạn bè.
     Mệnh cung của những người đóng tại Dần Thân Tị Hợi thường quan tâm đến con cái nhiều hơn, vì lẽ nó luôn luôn Nhị Hợp và Lục Hội với cung Mệnh.
     Mệnh cung những nơi khác ít quan tâm hơn, trừ các trường hợp cung an Thân Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Tử.
     Từ vị trí cung Tử Tức Tam hợp phải luôn là Phụ Mẫu, Tam hợp trái là Nô Bộc và Xung chiếu là Điền Trạch thì Tử Tức có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Phu Thê.
     11.2.10. Cung Tât Ách
     Cung Tật Ách là nơi báo cho biết những tai ách và bệnh tật và còn thêm một chức năng là thay mặt ai đó đi báo tin, hoặc ai đó đến báo tin, những chuyện buồn vui đến mình..
     Cung Tật Ách luôn luôn tam hợp với Điền, Huynh xung chiếu với Phụ Mẫu. Đó là những đối tượng, vấn đề trực tiếp nó còn gián tiếp gây áp lực lên 2 cung Nhị Hợp và Lục Hội. Hai cung này lại là những cường cung quan trọng, có khi đó chính là cung Mệnh, Thân.
     Tật Ách là cung mà ta không vay nhưng lại phải trả, là cung ta không muốn nhưng lại gặp. Cũng lại là cung lạm dụng thời cơ khi ta sức không còn mạnh khỏe lại phải đương đầu khi Đại Hạn sớm nhất là 52 tuổi và muộn màn nhất là 76 tuổi. Vậy khách của THIÊN SỨ thuộc dạng người cao tuổi.
     Tật Ách là cung không phải đem lại niềm vui, rất cá biệt đến đó được an toàn.
     Ách cung còn là nơi ghi nhận những Nghiệp từ cung Mệnh. Nếu như Mệnh là Nghiệp thì Ách cung chính là cái ách phải đeo vào. Cho nên các trường hợp Mệnh Nhị Hợp hay Lục Hội với Ách, cái ách càng khó gở bỏ.
     Từ vị trí cung Tật Ách ngoài Tam hợp phải luôn là Huynh Đệ, Tam hợp trái là Điền Trach và Xung chiếu là Phụ Mẫu thì Tật Ách có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Phu Thê, Quan Lộc.
     11.2.11. Cung Nô Bộc
     Phản ánh mối quan hệ giữa ta và cung Nô Bộc. Tất cả những ai mà ta có thể sai được thì được kể là Nô Bộc. Về Cơ bản cung Nô Bộc nên yếu hơn cung Mệnh.
     Thân không bao giờ an vào Nô Bộc tuy nhiên vị trí cung Mệnh hay Thân có thể Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Nô Bộc. Từ đó càng làm tăng tính chất tương tác từ cung Nô Bộc tới Mệnh Thân. Có khi ta phải dựa vào Nô Bộc mà sống, mà phát triển nhưng ngược lại Tai Ách từ đó mà ra.
     Từ vị trí cung Nô Bộc ngoài Tam hợp phải luôn là Tử Tức, Tam hợp trái là Phụ Mẫu và Xung chiếu là Huynh Đệ thì Nô Bộc có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Phu Thê.
     11.2.12. Điền Trạch
     Giống như cung Tài Bạch phản ảnh về Tài sản. Phối hợp với Mệnh Thân giúp ta đoán về ngôi nhà.
     Điền Trach là một cung số khá thú vị. Khi Mệnh hay Thân Nhị Hợp hay Lục Hội với cung này thì cuộc đời ảnh hưởng nhiều tới cung Điền. Nếu Điền Trach ở thế Lục Hội hay Hội Họp với cung Khác thì ta đoán cung này chịu ảnh hưởng từ các cung đó. Xấu tốt ra sao phụ thuộc vào các cách cục của lá số.
     Từ vị trí cung Điền ngoài Tam hợp phải luôn là Tật Ách, Tam hợp trái là Huynh Đệ và Xung chiếu là Tử Tức thì Điền Trach có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Tài Bạch, Phúc Đức, Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Phu Thê.